Wednesday, May 20, 2009

Thực trạng pháp luật diều chỉnh hoạt động của NHNN trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia


https://luattaichinh.wordpress.com/2009/05/20/th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-php-lu%E1%BA%ADt-di%E1%BB%81u-ch%E1%BB%89nh-ho%E1%BA%A1t-d%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-nhnn-trong-vi%E1%BB%87c-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-chnh-sch-ti/


NGUYỄN THU HƯỜNG
Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng mà hầu hết các quốc gia đều trao cho NHTƯ. Luật về NHTƯ của các nước đều có các quy định về nhiệm vụ của NHTƯ trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Chẳng hạn, Luật ngân hàng Cộng hòa liên bang Đức 1957 quy định nhiệm vụ của ngân hàng Cộng hòa liên bang Đức trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ở Điều 3; Luật NHTƯ Pháp năm 1993 quy định nhiệm vụ này tại Điều 1; Luật ngân hàng quốc gia Hungari năm 1991 quy định ở Điều 3, 4; Luật NHNN Việt Nam quy định tại Điều 15. Việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Do vậy, pháp luật phải quy định hết sức chặt chẽ về cơ chế hoạt động của NHNN trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia nhằm tránh các ảnh hưởng bất lợi của chính sách tiền tệ đối với tiến trình phát triển của nền kinh tế xã hội. NHNN (với tư cách là NHTƯ) đã tiến hành một số hoạt động khác nhau như: Hoạt động tái cấp vốn, hoạt động quy định lãi suất, hoạt động quy định tỷ giá hối đoái, hoạt động quy định dự trữ bắt buộc, hoạt động nghiệp vụ thị trường mở và một số hoạt động khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia một cách chủ động và hiệu quả nhất.
1. Hoạt động tái cấp vốn
1.1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động tái cấp vốn
Theo Khoản 10 Điều 9 Luật NHNN đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003, tái cấp vốn được hiểu “là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng”. Điều 17 Luật NHNN đã được sửa đổi, bổ sung có quy định ba hình thức tái cấp vốn sau đây:
Thứ nhất, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng.
Đây là hình thức tái cấp vốn của NHNN đối với các NHTM, dựa trên cơ sở các hồ sơ tín dụng mà NHTM đã cho vay đối với khách hàng. Theo nghiệp vụ này, NHTM phải xuất trình cho NHNN hồ sơ tín dụng đã được thẩm định và chấp nhận cho khách hàng vay mà chưa tìm được nguồn vốn cần thiết. Căn cứ vào nhu cầu điều hòa khối cung tiền tệ, chỉ số phát hành tiền bổ sung trong năm do Chính phủ quyết định, cũng như nhu cầu vay vốn của NHTM, NHNN thẩm định hồ sơ để chấp nhận hoặc từ chối cho vay. Trong trường hợp chấp nhận, NHNN cấp một khoản tín dụng cho NHTM với nguồn vốn cho vay là vốn dự trữ phát hành, trên cơ sở đảm bảo các tài sản có của NHTM.
Thứ hai, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ khác của NHTM.
Về khái niệm và bản chất của hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu: Theo quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của NHNN với các ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003 của Thống đốc NHNN đã được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 12/2008/QĐ-NHNN thì: “Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của các ngân hàng là nghiệp vụ NHNN mua ngắn hạn các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, mà các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàng giao dịch trên thị trường sơ cấp hoặc thứ cấp”. Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, nếu nhìn nhận từ góc độ kinh tế học thì nó được quan niệm là một nghiệp vụ tín dụng của NHNN nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nhưng nếu xét trên góc độ pháp lý, nó lại được quan niệm là một giao dịch hợp đồng, được xác lập giữa NHNN Việt Nam (với tư cách là bên cho vay) với NHTM (với tư cách là bên vay) thông qua hình thức mua, bán thương phiếu và các giấy tờ có giá khác của NHTM. Với tính chất là một quan hệ pháp luật, hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác của NHNN đối với các NHTM có thể được hình dung với ba yếu tố cơ bản: Yếu tố chủ thể, bao gồm có người mua (NHNN) và người bán (NHTM); yếu tố đối tượng mua, bán là thương phiếu và các giấy tờ có giá; yếu tố giá cả của “hàng hóa” được mua, bán chính là số tiền mua thương phiếu, giấy tờ có giá mà NHNN phải thanh toán cho khách hàng là NHTM sau khi đã trừ đi phần lợi tức chiết khấu.
Về đối tượng chiết khấu, tái chiết khấu: Trước đây, theo quy định của Luật NHNN năm 1997 thì các giấy tờ có giá được NHNN chiết khấu, tái chiết khấu phải là các giấy tờ có giá ngắn hạn. Tuy nhiên, theo Luật NHNN sửa đổi, bổ sung ngày 16/3/2003 và theo Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của NHNN đối với các ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 12/2008/QĐ-NHNN thì đối tượng chiết khấu, tái chiết khấu được mở rộng, bao gồm cả giấy tờ có giá ngắn hạn và dài hạn như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, các loại giấy tờ có giá trị khác được Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ. Các giấy tờ có giá nêu trên được NHNN chiết khấu khi có đủ các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 5 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá:
– Trường hợp chiết khấu toàn bộ thời gian còn lại của giấy tờ có giá: Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá là 91 ngày
– Trường hợp chiết khấu có kỳ hạn: Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn NHNN chiết khấu.
– Các giấy tờ có giá được phát hành bằng đồng Việt Nam và có thể chuyển nhượng được.
Về trình tự, thủ tục thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu: Theo quy định hiện hành, hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN đối với các NHTM sẽ được thực hiện tại Sở giao dịch NHNN. Trường hợp cần thiết, Sở giao dịch NHNN có thể trình Thống đốc NHNN ủy quyền cho chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nghiệp vụ chiết khấu đối với các NHTM có trụ sở chính trên địa bàn tỉnh, thành phố đó. Khi có nhu cầu vay vốn bằng hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, các NHTM (trụ sở chính) gửi giấy đề nghị chiết khấu (theo mẫu quy định) cho NHNN (Sở giao dịch NHNN hoặc các chi nhánh NHNN được ủy quyền) vào trước 15 giờ các ngày giao dịch. (Điều 10 Quy chế chiết khấu).
Căn cứ vào giấy đề nghị chiết khấu và hạn mức chiết khấu chưa sử dụng, NHNN xem xét hồ sơ xin chiết khấu, tái chiết khấu để quyết định và gửi thông báo chấp thuận (theo mẫu quy định) cho NHTM ngay sau khi nhận được giấy đề nghị chiết khấu của NHTM. Theo quy định tại Điều 11 quy chế chiết khấu, tái chiết khấu, NHNN sẽ không chấp nhận chiết khấu nếu:
– Ngân hàng đã sử dụng hết hạn mức chiết khấu.
– Các giấy tờ có giá không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 5 Quy chế chiết khấu.
– Giấy đề nghị chiết khấu gửi NHNN có nội dung không phù hợp với mẫu số 01 của quy chế, người ký không đúng thẩn quyền.
Như vậy, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của NHNN đối với các ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định của NHNN số 12/2008/QĐ-NHNN đã quy định cụ thể, rõ ràng và bổ sung nhiều quy định mới hợp lý, đáp ứng yêu cầu hoạt động của ngân hàng trong tiến trình hội nhập.
Thứ ba, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.
Đây là hình thức cho vay của NHNN dành cho TCTD là ngân hàng xin vay trên cơ sở cầm cố các giấy tờ có giá thuộc sở hữu của các ngân hàng này như tín phiếu Kho bạc nhà nước, tín phiếu NHNN, công trái, trái phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ… Các ngân hàng được vay theo hình thức này bao gồm: NHTM; ngân hàng phát triển; ngân hàng đầu tư; ngân hàng chính sách; ngân hàng hợp tác; ngân hàng liên doanh; chi nhánh NHNN; các loại hình ngân hàng khác được thành lập và hoạt động theo Luật TCTD. Việc cho vay cầm cố của NHNN đối với các ngân hàng trung gian phải được thực hiện trên cơ sở thẩm định hồ sơ đề nghị cho vay cầm cố của ngân hàng xin vay để quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay. Mọi thủ tục cấp tín dụng bằng hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và giấy tờ có giá khác được thực hiện theo Quyết định số 1425/2003/QĐ-NHNN ngày 03/11/2003 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá ngắn hạn của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng; Quyết định 94/2004/QĐ-NHNN ngày 20/01/2004 về việc sửa đổi một số điều của Quy chế cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN Việt Nam với các ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1425/2003/QĐ-NHNN ngày 03/11/2003.
Điểm khác biệt giữa hình thức tái cấp vốn này với hình thức tái cấp vốn bằng chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác là bên cho vay (NHNN) không được chuyển giao quyền sở hữu chứng từ mà chỉ nắm giữ hay quản lý chứng từ với tư cách là vật bảo đảm. Do đó, bên cho vay cũng không có quyền đòi tiền người mắc nợ theo chứng từ khi những chứng từ này đến hạn thanh toán. Trong khi đó, bên nhận chiết khấu (bên cho vay) trong nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá lại được chuyển giao quyền sở hữu chứng từ và có quyền đòi tiền của người mắc nợ theo chứng từ khi chứng từ đến hạn thanh toán.
1.2. Thực tiễn hoạt động tái cấp vốn của NHNN Việt Nam hiện nay
Luật NHNN sửa đổi, bổ sung năm 2003 quy định ba hình thức tái cấp vốn. Tuy nhiên, trên thực tế, hiện nay NHNN Việt Nam hầu như mới chỉ thực hiện được theo hai hình thức, đó là: Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác và cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và giấy tờ có giá.
Trong những năm vừa qua, hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã đóng góp không nhỏ trong việc đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản của các NHTM, góp phần ổn định hoạt động của hệ thống NHTM. Thông thường vào thời điểm cuối năm và gần tết Nguyên Đán thường xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn vốn thanh toán của các NHTM do nhu cầu rút tiền của khách hàng, có những ngày lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Đặc biệt, sự thiếu hụt này thường mang tính hệ thống, do vậy, bất cứ một khâu nào gặp ách tắc sẽ kéo theo hàng loạt các sự cố tiếp theo. Do vậy, hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã góp phần hỗ trợ các TCTD đảm bảo khả năng thanh toán, qua đó, duy trì sự ổn định của thị trường tiền tệ. Đồng thời, hoạt động tái cấp vốn còn có vai trò hỗ trợ vốn ngắn hạn, các nhu cầu bất thường xảy ra nhằm hỗ trợ các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán. Trường hợp NHTM cổ phần Á Châu vào tháng 10/2003 và NHTM cổ phần nông thôn Ninh Bình (Nay là NHTM cổ phần dầu khí Toàn Cầu) là ví dụ điển hình. Trước những tin đồn thất thiệt, khách hàng của Ngân hàng đã ồ ạt đến rút tiền trước hạn. Bất ngờ trước phản ứng mang tính dây chuyền của khách hàng, ngân hàng rơi vào tình trạng bị động trong cân đối nguồn vốn đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng. Tuy nhiên, với vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN đã kịp thời hỗ trợ khả năng thanh toán cho hai ngân hàng dưới hình thức cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá[17].

2. Hoạt động quy định lãi suất

2.1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động quy định lãi suất
NHTƯ với chức năng là cơ quan điều tiết lượng cung tiền của nền kinh tế, chủ động tác động đến lãi suất thị trường, nhằm hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát. Trên thực tế, sự thay đổi lãi suất chính thức của NHTƯ có tác động nhanh, mạnh đến sự thay đổi lãi suất trong nền kinh tế và tỷ giá hối đoái. Điều này càng đúng hơn trong nền kinh tế có hệ thống tài chính mở và cạnh tranh, khi đó nhiều hợp đồng được ký kết trên cơ sở lãi suất thả nổi hơn là trên cơ sở lãi suất cố định, lúc đó những thay đổi trong lãi suất cơ bản càng có ảnh hưởng đến lãi suất khác và tỷ giá. Điều 18 Luật NHNN sửa đổi, bổ sung năm 2003 quy định “NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn”. Như vậy, công cụ lãi suất được NHNN thực hiện dưới hình thức công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh hoặc dưới hình thức áp dụng lãi suất tái cấp vốn đối với các TCTD là ngân hàng.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ, NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản VNĐ. Theo đó, từ ngày 19/5/2008 các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay) bằng VNĐ đối với khách hàng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Lãi suất cơ bản do NHNN công bố là công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, làm cơ sở cho TCTD ấn định lãi suất kinh doanh phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường; có tác động định hướng và điều tiết lãi suất thị trường tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay hợp lý, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích người gửi tiền, TCTD và người vay vốn. Định kỳ hàng tháng, NHNN công bố lãi suất cơ bản và trong trường hợp cần thiết, NHNN công bố điều chỉnh lãi suất cơ bản; lãi suất cơ bản được xác định và công bố dựa trên cơ sở điều kiện của thị trường tiền tệ – tín dụng và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Quyết định này không được sự ủng hộ và tán đồng của các TCTD vì cho rằng Quyết định đã đi ngược với cách quản lý theo định hướng thị trường và ảnh hưởng đến tín dụng tiêu dùng vì trước đó, hầu hết các ngân hàng đã đầu tư vốn lớn cho việc phát triển hệ thống, hạ tầng, nhân lực dựa trên định hướng tăng trưởng lĩnh vực tiêu dùng trong điều kiện bình thường[18,26].
Qua nhiều lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, tính đến đầu năm 2009, theo quyết định số 626/QĐ-NHNN ngày 24/03/2009 của Thống đốc NHNN có hiệu lực từ ngày 01/04/2009 lãi suất cơ bản do NHNN ấn định là 7%/năm.
Bên cạnh việc quy định lãi suất cơ bản, NHNN còn quy định một số loại lãi suất khác tạo tiền đề cho các NHTM ấn định lãi suất kinh doanh. Cũng theo Quyết định này lãi suất tái cấp vốn của NHNN đối với các TCTD là 8%/năm; lãi suất tái chiết khấu của NHNN đối với các TCTD là 6%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 8%/năm. Về bản chất pháp lý, lãi suất tái cấp vốn không phải là mệnh lệnh hành chính và không buộc phải tuân thủ đối với các TCTD. Lãi suất tái cấp vốn thực chất là “giá cả” của việc sử dụng vốn được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tái cấp vốn. Khác với lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn có tác dụng như một biện pháp đòn bẩy kinh tế trong tay nhà quản lý là NHNN để điều tiết quy mô và mức độ phát triển của hợp đồng tín dụng trên thị trường.
2.2. Thực tiễn hoạt động quy định lãi suất của NHNN Việt Nam hiện nay
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra với mức độ tồi tệ nhất trong vòng 80 năm qua ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do vậy, chính sách tiền tệ cũng có những thay đổi trước diễn biến của nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái. Trong nửa đầu năm 2008, lạm phát tăng mạnh, NHNN thực hiện chính sách thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn. Nhưng từ tháng 9/2008, để ngăn chặn suy thoái kinh tế bởi khủng hoảng tài chính, NHNN đã nhanh chóng chuyển sang chính sách tiền tệ nới lỏng, đồng loạt cắt giảm mạnh lãi suất chủ đạo, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc…
Trong giai đoạn từ 01/12/2005 đến 01/02/2008 lãi suất cơ bản luôn giữ ở mức ổn định là 8,25%/năm. Hai quý đầu năm 2008, lãi suất đã có những biến động to lớn: Theo Quyết định 305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25 tháng giữ ổn định ở mức 8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm. Sau hơn 3 tháng thực hiện, đến ngày 19/05/2008, lãi suất cơ bản vọt lên 12%/năm và chưa đầy 1 tháng sau, ngày 11/06/2008, Quyết định 1317/QĐ-NHNN của NHNN đã nâng thêm 2% đưa lãi suất cơ bản lên mức 14%/năm… [19,32].
Bảng 1: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản
từ tháng 12/2005 – đến tháng 06/2008
Lãi suấtQuyết địnhNgày thực hiện
8,25%/năm1746/QĐ-NHNN ngày 01/12/200501/12/2005
8,75%/năm305/QĐ-NHNN ngày 30/01/200801/02/2008
12%/năm1099/QĐ-NHNN ngày 16/05/200819/5/2008
14%/năm1317/QĐ-NHNN ngày 10/06/200811/6/2008
Những ngày đầu quý III năm 2008, nền kinh tế trong nước vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, tăng trưởng kinh tế giảm dần, thị trường tiền tệ diễn biến phức tạp, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản vẫn đang trong tình trạng “ngủ đông”…Tuy nhiên, chỉ số lạm phát ở tháng 7 được công bố ở mức 1,13 – mức thấp nhất so với các tháng trước – đã làm cho tình hình dịu đi. Và hi vọng về sự sáng sủa của bức tranh kinh tế đã bắt đầu le lói khi các tháng tiếp theo chỉ số lạm phát vẫn giảm dần. Cuộc chạy đua lãi suất cũng bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau một loạt các Quyết định của NHNN trong việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong đó có công cụ lãi suất. Lãi suất cơ bản đã giảm xuống đáng kể, từ 14%/năm xuống còn 8,5%/năm.(Xem bảng 2)[19,33,34]
Bảng 2: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản
từ tháng 06/2008 – đến nay
Lãi suất cơ bảnQuyết địnhNgày thực hiện
14%/năm1317/QĐ-NHNN ngày 10/06/200811/06/2008
13%/năm2316/QĐ-NHNN ngày 20/10/200821/10/2008
12%/năm2559/QĐ-NHNN ngày 03/11/200805/11/2008
11%/năm2808/QĐ-NHNN ngày 20/11/200821/11/2008
10%/năm2948/QĐ-NHNN ngày 03/12/200805/12/2008
8,5%/năm3161/QĐ-NHNN ngày 19/12/200822/12/2008
7%/năm626/QĐ-NHNN ngày 24/03/200901/04/2009
Bên cạnh đó, 6 tháng đầu năm 2008, NHNN đã 2 lần thay đổi lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu theo hướng tăng lên: Tăng lần 1, lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm, lãi suất chiết khấu lên 11%/năm; Tăng lần 2, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi suất chiết khấu lên 13%/năm.
Trong những tháng cuối năm 2008, tuy lạm phát đã có xu hướng giảm dần, nhưng vẫn ở mức cao và xu hướng giảm chưa rõ nét, chưa ổn định. Trong khi đó thì tăng trưởng kinh tế đã có sự suy giảm mạnh so với năm 2007. Tình hình này đòi hỏi NHNN phải có những bước đi thận trọng nhằm tiếp tục kiểm soát lạm phát nhưng đồng thời cũng góp phần tăng đầu tư sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Trong bối cảnh này, NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm, 11%/năm, 9,5%/năm; Lãi suất chiết khấu từ 13%/năm xuống 12%/năm, 11%/năm, 9%/năm và 7,5%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các NHTM từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm, 11%/năm và 9,5%/năm.
Thời gian qua, mặc dù NHNN đã từng bước đổi mới cơ chế điều hành lãi suất, bước đầu hình thành hành lang dao động cho lãi suất thị trường liên ngân hàng. Nhưng thực tế cho thấy lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu đã được điều hành để phát tín hiệu về quan điểm chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ (thắt chặt hay nới lỏng) có tác động hạn chế đến lãi suất thị trường. Các lãi suất trên chưa thực sự phát huy được vai trò định hướng lãi suất thị trường, mối quan hệ giữa các lãi suất của NHNN và lãi suất thị trường còn chưa thực sự gắn kết chặt chẽ.
Tóm lại, lãi suất là một vấn đề phức tạp, luôn luôn được các nhà quản lý kinh tế tài chính quan tâm. Việc sử dụng nó với tư cách là một công cụ quản lý tài chính – tiền tệ chỉ đạt được hiệu quả cao khi biết kết hợp chặt chẽ với các công cụ quản lý khác như cho vay lại, tái chiết khấu…Bởi vì, “mặc dù không có mối quan hệ trực tiếp giữa lãi suất tái chiết khấu với lãi suất cơ bản nhưng thông thường khi lãi suất tái chiết khấu tăng hay giảm kéo theo sự tăng hay giảm của lãi suất cơ bản”[14,91]. Lãi suất cũng chính là một trong những công cụ để NHNN điều tiết khối lượng tiền tệ và là công cụ thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhưng “đồng thời lại là một công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại trong việc sử dụng chúng của các NHNN”[14,13].

3. Hoạt động quy định tỷ giá hối đoái

3.1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động quy định tỷ giá hối đoái
Khoản 9 Điều 9 Luật NHNN định nghĩa: “ Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của đồng Việt Nam với giá trị của đồng tiền nước ngoài”. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng các đơn vị tiền tệ của một quốc gia khác. Đây là công cụ có tác động trực tiếp, linh hoạt đến xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Luật NHNN cũng quy định tại Điều 18: “ Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
NHNN Việt Nam xác định và công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam”.
Như vậy, để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, NHNN căn cứ vào cung cầu ngoại tệ trên thị trường và nhu cầu điều tiết của nhà nước để xác định và công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam. Trong những năm qua, NHNN đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ cơ chế điều hành tỷ giá. Từ năm 1994, cùng với sự ra đời của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, NHNN bắt đầu thực hiện điều hành tỷ giá theo cơ chế mới, linh hoạt hơn, bám sát cung cầu thị trường thay thế cho chế độ đa tỷ giá trước đây. Theo đó, NHNN bắt đầu công bố tỷ giá chính thức giữa ngoại tệ và đồng Việt Nam, tỷ giá mua bán trên thị trường được phép dao động trong biên độ cho phép. Sang năm 1999, NHNN lại thực hiện bước đổi mới cơ bản về điều hành chính sách tỷ giá theo các nguyên tắc của thị trường bằng việc hàng ngày công bố tỷ giá chính thức là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch trước đó.
3.2. Thực tiễn hoạt động quy định tỷ giá hối đoái của NHNN Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập ngày càng tác động sâu rộng vào kinh tế thế giới, mức độ tự do hóa các giao dịch vốn tương đối cao, biến động của các luồng vốn đầu tư, đặc biệt là các luồng vốn gián tiếp đã ảnh hưởng mạnh đến cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. Trong những năm gần đây, luồng vốn đầu tư gián tiếp đã liên tục biến động, khiến cho cung cầu ngoại tệ trở nên mất cân đối. Trong ba tháng đầu năm 2008, luồng vốn này gia tăng đáng kể, gây áp lực tăng giá VNĐ, nhưng sau đó lại đảo chiều làm tăng cầu ngoại tệ khi tình hình kinh tế thế giới tiếp tục suy thoái, kinh tế trong nước đối mặt với lạm phát, nhập siêu cao. Khi nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu tăng nhẹ trở lại, trong các tháng cuối năm, tình trạng khủng hoảng thị trường tài chính quốc tế lại khiến cho các nhà đầu tư có xu hướng rút vốn về nước để đảm bảo thanh khoản của các tổ chức tài chính ở nước họ.
Những biến động khó lường của kinh tế và thị trường tài chính thế giới cũng như trong nước đã ảnh hưởng tiêu cực tới cân bằng cung cầu ngoại tệ trong nước. Tuy nhiên, với vai trò điều tiết lưu thông tiền tệ của mình, NHNN đã điều hành tỷ giá linh hoạt, thực hiện được các mục tiêu của chính sách tỷ giá, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng, góp phần thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, hoạt động quy định tỷ giá hối đoái của NHNN được thực hiện như sau:
– NHNN đã can thiệp thị trường ngoại hối với mức tỷ giá mua vào và bán ra được điều chỉnh linh hoạt. Trong thời điểm thị trường dư cầu, NHNN đã kịp thời bán ngoại tệ can thiệp, hạ nhiệt thị trường. Trong thời điểm thị trường dư cung, NHNN sẽ mua ngoại tệ vào ở một mức độ nhất định và hợp lý, bảo đảm tỷ giá không giảm quá sâu, nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế nhập siêu, góp phần ổn định chính sách tiền tệ quốc gia.
– Trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ, NHNN đã kết hợp đa dạng, hài hòa nhiều hình thức can thiệp khác nhau. Với sự phối hợp tốt giữa NHNN với các NHTM, các hình thức can thiệp đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, đưa thị trường bình ổn trở lại.
– Chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá đã được NHNN phối hợp thực hiện đồng bộ. Lãi suất VNĐ tăng trong khi lãi suất USD giảm đã tạo sự hấp dẫn cho tiền đồng, góp phần ổn định tỷ giá hối đoái[23,13].
– Bên cạnh những hoạt động trên, NHNN đã phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng trên toàn quốc làm tốt công tác tuyên truyền, củng cố lòng tin trong nhân dân và doanh nghiệp, giúp cho hoạt động thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN đạt hiệu quả tốt hơn.
Vào thời điểm giữa tháng 06/2008, thị trường có nhiều biến động đột biến, NHNN đã chủ động thực hiện các giải pháp chính sách kịp thời, đồng bộ, tập trung vào giai đoạn cuối tháng 6. Cụ thể là: Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 2% để phản ánh sát hơn cung cầu thị trường; Mở rộng biên độ tỷ giá giao dịch USD/VNĐ từ mức +/-1% lên mức +/-2% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố (Quyết định 1436/QĐ-NHNN ngày 26/06/2008); Tăng mạnh lãi suất cơ bản tập trung nguồn tiền đồng vào hệ thống ngân hàng, kiềm chế lạm phát và giảm áp lực lên tỷ giá; Công bố mức dự trữ ngoại hối nhà nước, củng cố lòng tin thị trường[23,13].
Theo Quyết định số 2635/QĐ-NHNN ngày 06/11/2008, kể từ ngày 07/11/2008 biên độ tỷ giá giao dịch USD/VNĐ được mở rộng từ mức +/-2% lên +/-3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố.
Và đến ngày 23/03/2009, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành Quyết định số 622/QĐ-NHNN có hiệu lực từ ngày 24/03/2009, theo đó biên độ tỷ giá giữa VNĐ với USD được điều chỉnh tăng từ mức +/- 3% lên mức +/-5%. Quyết định này sẽ giúp cho tỷ giá biến động hai chiều linh hoạt hơn, bám sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Đồng thời tạo điều kiện cho các ngân hàng và doanh nghiệp chủ động lập phương án trong năm 2009.
Bên cạnh các hoạt động trên, NHNN Việt Nam còn yêu cầu các TCTD được phép kinh doanh ngoại hối nghiêm túc chấp hành quy định về biên độ tỷ giá giữa VNĐ và USD, thực hiện niêm yết và giao dịch theo đúng quy định pháp luật và kiểm soát chặt chẽ, chấn chỉnh hoạt động của các đại lý, bàn đổi ngoại tệ bảo đảm thực hiện nghiêm túc các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.
Có thể nói, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng đứng những trước khó khăn mà nhiều tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài cho rằng Việt Nam đã đứng bên bờ vực của khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế. Việc Việt Nam bình ổn được thị trường ngoại tệ, tỷ giá vẫn giữ tương đối ổn định đã nhận được sự đánh giá cao của các tổ chức tài chính quốc tế, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước vào khả năng điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ với sự hoạt động hiệu quả của NHNN Việt Nam.

4. Hoạt động quy định dự trữ bắt buộc

4.1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động quy định dự trữ bắt buộc
Trong lịch sử ngành ngân hàng, việc thiết lập quỹ dự trữ đã trở thành nhu cầu thiết thực trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và trên thực tế biện pháp này đã từng được các NHTM áp dụng một cách hoàn toàn tự nguyện. Theo dòng thời gian, do nhu cầu sử dụng biện pháp trích lập quỹ dự trữ như một công cụ để điều tiết lưu thông tiền tệ, đồng thời là biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, NHTƯ các nước đã bắt đầu quy định việc trích lập quỹ dự trữ là nghĩa vụ bắt buộc đối với các TCTD. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 9 Luật NHNN Việt Nam, “Dự trữ bắt buộc là số tiền mà TCTD phải gửi tại NHNN để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”. Có thể nói một cách cụ thể hơn, “dự trữ bắt buộc là số tiền mà TCTD hoạt động tại Việt Nam phải duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHNN”. (Theo Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-NHNN ngày 09/06/2003).
Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các NHTM phải đưa vào dự trữ theo luật định. Phần dự trữ này được gửi vào tài khoản ở NHTƯ với mục đích làm phương tiện kiểm soát khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng, đồng thời trong một chừng mực nhất định, góp phần đảm bảo khả năng thanh toán của hệ thống.
Dự trữ bắt buộc được tính toán trên cơ sở số dư tiền gửi huy động bình quân của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc tại Hội sở chính và các chi nhánh của TCTD trong kỳ. Việc xác định dự trữ bắt buộc và tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng được Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ đối với từng TCTD.
Đối với dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam, được duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Sở giao dịch NHNN và các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố.
Đối với dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, được duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Sở giao dịch NHNN.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình TCTD và từng loại tiền gửi do Thống đốc NHNN quy định tùy thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Trong những năm gần đây, do tình hình kinh tế luôn diễn biến phức tạp, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được thay đổi liên tục để phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính sách tiền tệ quốc gia. Theo Quyết định số 3158/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của các TCTD như sau:
– Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng: Các NHTM Nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn), NHTM cổ phần ngoại thương Việt Nam, NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính là 5% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc; Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn là 2% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc; NHTM cổ phần nông thôn, Qũy tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc.
– Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng: Các NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam, NHTM cổ phần đô thị, NHTM cổ phần nông thôn, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng hợp tác, công ty tài chính, Qũy tín dụng nhân dân trung ương là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc.
Ở nước ta, hoạt động quy định dự trữ bắt buộc chính thức được thực hiện từ năm 1992 (Quyết định số 108/QĐ-NH5 ngày 09/6/1992 về việc ban hành “Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các TCTD” và Quyết định số 117/QĐ-NH1 ngày 26/6/1992 về “Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng và TCTD”). Kể từ đó đến nay, hoạt động này không ngừng được hoàn thiện và sử dụng một cách có hiệu quả, nhằm thực hiện mục tiêu ổn định tiền tệ. Bên cạnh một số ưu điểm lớn của công cụ dự trữ bắt buộc như đảm bảo khả năng thanh toán cho các NHTM, giúp NHTM tránh được rủi ro mất khả năng thanh toán, tôn trọng sự cạnh tranh giữa các ngân hàng vì nó áp dụng không phân biệt mọi ngân hàng trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, việc NHNN không ngừng thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ gây ra tình trạng kém ổn định cho các ngân hàng. Do đó, đòi hỏi NHNN phải đưa ra những quyết định chính xác, vừa tạo điều kiện cho các ngân hàng hoạt động hiệu quả, vừa đảm bảo cho việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
4.2. Thực tiễn hoạt động quy định dự trữ bắt buộc của NHNN Việt Nam hiện nay
Trong mấy năm gần đây, lạm phát trong nước tăng mạnh, chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI đã tăng là 9,1% (đây là quý có mức tăng cao nhất tính từ năm 1995 trở lại đây) và đã vượt xa chỉ tiêu của Chính phủ đặt ra cho cả năm 2008 là: GDP tăng từ 6,7-7% và giữ cho CPI thấp hơn mức này. Đầu năm 2007, NHNN vẫn giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tuy nhiên có dấu hiệu thắt chặt ở chỗ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần từ tháng 6/2007 nhưng thời điểm thực hiện là từ đầu tháng 2/2008. Theo Quyết định số 187/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008 về việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD thì NHNN đã mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc gồm: các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn (trước đó chỉ áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống). Tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được tăng 1% đối với các loại tiền gửi so với tỷ lệ quy định trước đó. Cụ thể đối với tiền VNĐ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%; đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%; đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 4% lên 5%.
Kể từ ngày 05/11/2008, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng nội tệ giảm 1% và tiền gửi dự trữ bắt buộc ngoại tệ giảm 2%. Trong quý III/2008, nền kinh tế Việt Nam có chiều hướng tốt lên khi chỉ số lạm phát ngày càng có xu hướng giảm dần, NHNN cũng đã ban hành một số quyết định liên quan đến việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo hướng giảm xuống. Cụ thể như sau:
– Quyết định số 2811/ QĐ-NHNN ngày 20/11/2008 giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10%/năm xuống 8%/năm
– Quyết định số 2951/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 8%/năm xuống 6%/năm
– Quyết định số 3158/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 6%/năm xuống 5%/năm[19,33].
Trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, NHNN vẫn thắt chặt ở chỗ duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao để hạn chế việc mở rộng tín dụng của các NHTM trong nền kinh tế và để thu hút bớt tiền từ lưu thông về thông qua công cụ dự trữ bắt buộc. Song linh hoạt ở chỗ tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc để góp phần giảm chi phí hoạt động tín dụng cho các TCTD. Trong một khoảng thời gian ngắn, từ tháng 9 đến tháng 12/2008, lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc lần lượt tăng lên: 3,5%/năm; 5%/năm; 10%/năm, sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm. Thể hiện cụ thể trong bảng 3[19,33,34].
Bảng 3: Những dấu mốc thay đổi lãi suất dự trữ bắt buộc
từ tháng 9 – đến tháng 12/2008
Lãi suất DTBBQuyết địnhNgày thực hiện
3,5%/năm1907/QĐ-NHNN ngày 29/8/200801/09/2008
5,0%/năm2133/QĐ-NHNN ngày 25/9/200801/10/2008
10%/năm2321/QĐ-NHNN ngày 20/10/200821/10/2008
9%/năm2950/QĐ-NHNN ngày 3/12/20085/12/2008
8,5%/năm3162/QĐ-NHNN ngày 19/12/200822/12/2008
Có thể nói, thông qua hoạt động quy định dự trữ bắt buộc, NHNN có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến việc tăng hoặc giảm khối lượng tiền trong lưu thông bởi vì, khi NHNN quyết định giảm mức dự trữ bắt buộc của TCTD gửi tại NHNN xuống một mức độ nhất định thì điều đó cũng có nghĩa rằng phần vốn thực tế mà TCTD đưa vào lưu thông sẽ tăng lên. Hành động này đồng nghĩa việc bành trướng khối cung tiền tệ trong lưu thông. Ngược lại, trong trường hợp phải giảm khối cung tiền tệ trong lưu thông, đẩy lùi lạm phát, NHNN có thể quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD nhằm thu hẹp khả năng cấp tín dụng của những đối tượng này đối với khách hàng, đồng thời có tác dụng phòng ngừa những hậu quả bất lợi sau này có thể xảy ra đối với các TCTD khi khách hàng gửi tiền đồng loạt rút tiền gửi trong cùng thời điểm. Bằng quyết định tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHNN sẽ thực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” hay “nới lỏng” đối với nền kinh tế xã hội, nhằm mục tiêu đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

5. Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở

5.1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động nghiệp vụ thị trường mở
Theo Khoản 4 Điều 9 Luật NHNN sửa đổi, “Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do NHNN thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”. Đối tượng hàng hóa được đem ra mua, bán trên nghiệp vụ thị trường mở bao gồm cả giấy tờ có giá ngắn hạn, trung hạn và dài hạn như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu NHNN, trái phiếu kho bạc…
Nghiệp vụ thị trường mở là một trong số các hoạt động được NHNN sử dụng một cách hiệu quả trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia trong những năm gần đây, bởi lẽ hoạt động này có khả năng điều tiết một cách linh hoạt khối cung tiền tệ trong lưu thông, rất phù hợp với tình hình biến động nhanh chóng, thường xuyên của giá trị đồng nội tệ trong nền kinh tế thị trường mà các hoạt động khác không có được. Việc áp dụng nghiệp vụ này sẽ cho phép NHTƯ chủ động hơn trong việc điều hòa khối cung tiền tệ, tác động trực tiếp vào khả năng cung ứng tín dụng của các TCTD.
Do công cụ nghiệp cụ thị trường mở đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia nên từ khi công cụ này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/07/2000 đến nay đã có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của nó. Hiện nay, bên cạnh luật NHNN, các quy định cho nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam bao gồm:
– Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc NHNN. Theo quy chế này thì danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở do Thống đốc Ngân hàng nhà nước quy định trong từng thời kỳ. (Khoản 2 Điều 8 Quy chế)
– Quyết định của NHNN số 27/2008/QĐ-NHNN ngày 30/09/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc NHNN. Theo đó, các phương thức mua hoặc bán giấy tờ có giá bao gồm: Giao dịch mua có kỳ hạn (việc NHNN mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá từ TCTD, đồng thời TCTD cam kết sẽ mua lại và nhận lại quyền sở hữu giấy tờ có giá đó sau một thời gian nhất định); Giao dịch bán có kỳ hạn (việc NHNN bán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho TCTD, đồng thời cam kết sẽ mua lại và nhận lại quyền sở hữu giấy tờ có giá đó sau một thời gian nhất định); Giao dịch mua hẳn (việc NHNN mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá từ TCTD, không kèm theo cam kết bán lại giấy tờ có giá); Giao dịch bán hẳn (việc NHNN bán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho TCTD, không kèm theo cam kết mua lại giấy tờ có giá).
– Các văn bản pháp lý khác: Trong thời gian qua, NHNN đã ban hành nhiều văn bản nhằm hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thị trường mở cả về hoạt động của thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp. Ví dụ: Quy chế quản lý vốn khả dụng ban hành kèm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-NHNN ngày 24/1/2000 về việc ban hành quy chế vốn khả dụng…
Tất cả các quy định pháp luật nói trên đều là yếu tố nền tảng cho hoạt động nghiệp vụ thị trường mở. Về cơ bản, hệ thống văn bản pháp luật cho sự ra đời và hoạt động của thị trường mở đã và đang hoàn chỉnh. Nó đảm bảo sự thuận tiện trôi chảy cho hoạt động thị trường mở của NHNN từ khâu phát hành chứng khoán, giao dịch chứng khoán, hoạt động can thiệp của Ngân hàng nhà nước cho đến các hoạt động thanh toán, lưu giữ chứng khoán[15,94].
5.2. Thực tiễn hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của NHNN Việt Nam hiện nay
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ vào tình hình thực tế, ngay từ đầu năm 2008, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt để kiềm chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá 30%. Để thực hiện mục tiêu này, NHNN thực hiện nhiều hoạt động nhằm thực thi chính sách tiền tệ trong đó có hoạt động nghiệp vụ thị trường mở.
Cuối năm 2007, đầu năm 2008, NHNN vẫn duy trì thị trường mở, với việc cung ứng 20.000 tỷ đồng để hỗ trợ các TCTD giải quyết tình trạng mất cân đối vốn khả dụng tạm thời, song những ngân hàng nhỏ vẫn không thể tiếp cận được với thị trường này vì không đủ điều kiện (không có nguồn vốn để dự trữ giấy tờ có giá). Ngày 13/02/2008, NHNN ban hành Quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn 364 ngày, lãi suất 7,8%/năm, ngày phát hành 17/03/2008. Tín phiếu NHNN được phân bổ cho 41 NHTM theo quy mô tỷ trọng vốn huy động bằng đồng Việt Nam (4 NHTM Nhà nước, 28 NHTM cổ phần, 7 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, 2 Ngân hàng liên doanh và công ty tài chính dầu khí). Đó là những Ngân hàng vẫn còn khá dồi dào nguồn vốn[25,18]. Như vậy, để thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, NHNN đã chủ động phát hành tín phiếu NHNN nhằm thu bớt tiền trong lưu thông với mục đích ổn định tiền tệ.
Kể từ ngày 1/10/2008, NHNN đã có quyết định cho phép tín phiếu NHNN bắt buộc phát hành từ tháng 3/2008 được điều chỉnh bổ sung là được phép cầm cố để vay vốn, chiết khấu tại NHNN, được sử dụng làm công cụ cho nghiệp vụ thị trường mở của NHNN. Và từ ngày 21/10/2008, NHNN thực hiện trả trước hạn tín phiếu này theo yêu cầu của các TCTD. (Quyết định của NHNN số 2317/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008).
Việc bắt buộc mua tín phiếu NHNN như trên là không hợp lý bởi về nguyên tắc, tín phiếu do NHTM tự nguyện mua, trên cơ sở tính toán nguồn vốn của mình và có thời hạn dưới 12 tháng. Trường hợp cần thiết, NHTM có thể bán lại tín phiếu cho NHNN để lấy tiền về. Thế nhưng với 20.300 tỷ đồng tín phiếu mà NHNN phát hành lại không có tính tự nguyện, NHTM buộc phải mua theo số lượng đã được NHNN ấn định. Như vậy, 20.300 tỷ đồng này khá giống với dự trữ bắt buộc, có khác là NHTM được trả lãi với lãi suất 7,8%/năm. Một điểm nữa là tín phiếu bắt buộc này lại rất giống trái phiếu. Theo quy định, tín phiếu có thời hạn dưới 12 tháng còn thời hạn của trái phiếu là trên 12 tháng. Tín phiếu bắt buộc thuộc loại “già tín phiếu nhưng non trái phiếu” khi có thời hạn 364 ngày, tức là chỉ thiếu đúng một ngày là được gọi là trái phiếu. Vì lý do trên mà hầu hết các NHTM không mặn mà đối với nghiệp vụ này.
Như trên đã phân tích, hoạt động thị trường mở có vai trò rất quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ. Song tiền đề cho sự hoạt động hiệu quả của thị trường này chính là thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc Nhà nước. Bởi vì NHTM có sở hữu tín phiếu kho bạc Nhà nước và một số loại giấy tờ có giá khác thì mới có điều kiện tham gia thị trường mở của NHNN.
Trong hơn 9 tháng đầu năm 2008, do khó khăn về thanh khoản NHTM, nên trong khi thị trường mở rất sôi động thì thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc trầm lắng, các phiên đấu thầu không được tổ chức. Thực tế chỉ có 2 phiên được tổ chức vào cuối tháng 1 và cuối tháng 3/2008 nhưng không có thành viên nào tham gia dự thầu. Qúy II/2008, không tổ chức được phiên nào, quý III tổ chức được 3 phiên. Thị trường này hoạt động nhộn nhịp trở lại từ đầu tháng 10/2008, khi NHNN đã tăng tần suất giao dịch từ 1 phiên/tuần lên 2 phiên/tuần, có 24 phiên được tổ chức vào quý IV/2008. Tính tổng cộng đến ngày 25/12/2008, NHNN tổ chức được 34 phiên, giảm 9 phiên so với kết quả 43 phiên được tổ chức trong năm 2007[24,44]. Diễn biến này cùng phù hợp với 4 giai đoạn khác nhau trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2008 của NHNN. Thông qua đó, thị trường này có tác dụng rất quan trọng trong can thiệp vốn khả dụng của NHTM, cũng như tạo công cụ phòng ngừa rủi ro thanh khoản của NHTM, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu đã đề ra của NHNN.
Đến nay, hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của NHNN đã thu được một số thành tựu nhất định, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc: Thị trường tiền tệ còn có sự phân tách và chủ yếu chịu sự chi phối của 5 NHTM Nhà nước; số thành viên tham gia các phiên giao dịch nghiệp vụ thị trường mở chiếm một tỉ lệ không cao trong tổng số các TCTD đã được công nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường mở; việc dự báo vốn khả dụng để đưa ra kiến nghị cho nghiệp vụ thị trường mở vẫn còn nhiều khó khăn, kết quả dự báo vốn khả dụng chủ yếu mang tính ngắn hạn; hiệu quả điều tiết nghiệp vụ thị trường mở còn chưa cao và hiện tại quy trình đăng ký, lưu ký giấy tờ có giá để tham gia nghiệp vụ thị trường mở vẫn còn nhiều phức tạp… Do vậy, hoạt động này thực sự chưa thể hiện được tính nhạy cảm và hữu hiệu của nó. Xét cho cùng con đường hướng tới việc vận hành hoàn hảo nghiệp vụ này ở Việt Nam còn phải trải qua nhiều khó khăn, trước mắt cũng như lâu dài.

6. Một số hoạt động khác của NHNN Việt Nam để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bên cạnh việc thực hiện đồng bộ các công cụ nêu trên, NHNN còn thực hiện một số hoạt động khác như: Điều hành thị trường vàng, thị trường ngoại tệ, quy định hạn mức tín dụng… để thực hiện một cách hiệu quả nhất vai trò của mình. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, NHNN lại có những kế hoạch nhất định đối với từng công cụ này.Cụ thể như sau:
* Đối với hoạt động điều hành thị trường ngoại tệ
Những tháng đầu năm 2008, do nền kinh tế trong nước ở trong tình trạng lạm phát cao, Ngân hàng nhà nước đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng việc đưa ra các Quyết định liên quan đến thị trường ngoại tệ như: Quyết định số 21/2008/QĐ-NHNN ngày 11/7/2008 ban hành quy chế thu đổi ngoại tệ; Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 của Thống đốc NHNN thu hẹp đối tượng được vay vốn ngoại tệ (nhằm hạn chế nhập siêu, nhu cầu vay vốn của khách hàng không sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ nhưng vẫn xin nhận nợ bằng ngoại tệ để hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất giữa VNĐ và USD tại thời điểm đó). Tuy nhiên, không phải các chính sách và giải pháp mà NHNN áp dụng để kiềm chế sự gia tăng của lạm phát đều được sự ủng hộ và tán đồng của khách hàng. Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN là một ví dụ.
Cũng trong thời gian này, NHNN mở rộng biên độ mua bán ngoại tệ của các TCTD so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng từ +/-0,75% lên +/-1%, kết hợp với điều hành linh hoạt tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng và sử dụng tiền rút về từ lưu thông để mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối nhà nước…Do vậy, ngay trong quý I năm 2008 đã thu được những kết quả nhất định là: rút về khoảng 40.000 tỷ đồng để mua 1,5 tỷ USD góp phần làm giảm bớt sức ép từ nguồn cung ngoại tệ dư thừa cho các NHTM. Vì NHNN mua vào một lượng ngoại tệ khá lớn nên một số lượng VNĐ rất lớn đã được đẩy vào lưu thông, góp phần không nhỏ trong việc đội giá cả hàng hóa nên đã có nhiều ý kiến không đồng tình với cách làm này.
Vấn đề đặt ra là: Nếu không chuyển qua VNĐ thì các doanh nghiệp, các cá nhân khó có thể sử dụng nguồn ngoại tệ này, hơn nữa, một thực tế không thể phủ nhận ở nước ta, người ta vẫn dùng USD để mua bán, trao đổi khá tự do (mặc dù không được phép) mà việc dùng USD thay thế VNĐ trong các giao dịch trên đất Việt Nam còn nguy hiểm hơn nhiều. Vì thế, ngoại tệ cần phải được tập trung vào tay nhà nước để sử dụng hiệu quả cho những nhu cầu chính đáng của quốc gia và hạn chế tình trạng đôla hóa nền kinh tế, cho nên dù không hành chính hóa vấn đề này, song nếu doanh nghiệp, cá nhân nào có nhu cầu bán ngoại tệ là ngân hàng không được từ chối. Tất nhiên, NHTM thì mua của doanh nghiệp, của dân. NHNN thì mua lại của các NHTM. Việc làm đó đồng nghĩa với phát hành tiền vào lưu thông, vấn đề sẽ trở nên bình thường nếu như nguồn ngoại tệ được sử dụng một cách có hiệu quả, tạo ra nguồn hàng đảm bảo sự cân đối với số lượng VNĐ đã phát ra. Vì thế, một mặt khi phát hành tiền đồng mua ngoại tệ phải luôn đi kèm với giải pháp hút tiền đồng về bằng cách sử dụng kết hợp với công cụ thị trường mở, công cụ lãi suất…
Ngoài ra, vấn đề quản lý quý dự trữ ngoại hối của Nhà nước cũng phải được quan tâm. NHNN khi điều hành chính sách tiền tệ cần phải lưu ý rằng, ngoại tệ là của quốc gia, không vì lợi ích riêng mà để phân tán rải rác gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ và cũng cản trở việc quản lý và sử dụng chúng một cách hiệu quả.
* Đối với hoạt động điều hành thị trường vàng
Bên cạnh điều hành thị trường ngoại tệ, NHNN cũng điều hành thị trường vàng khá linh hoạt trong từng thời điểm nhất định. Mặc dù diễn biến của thị trường vàng trong 8 năm gần đây, trực tiếp là kể từ khi cuộc khủng bố ngày 11/9 nhằm vào nước Mỹ cho đến nay thị trường vàng thế giới và trong nước có biến động nhanh, tình hình đó có tác động nhất định đến điều hành chính sách tiền tệ quốc gia Việt Nam. Theo đó, để kiềm chế lạm phát, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua việc bán một lượng vàng nhất định ra thị trường để thu về một khối lượng Đồng Việt Nam tương ứng, và ngược lại đối với chính sách tiền tệ nới lỏng. Do đó, cùng với các hoạt động khác của NHNN, hoạt động điều hành thị trường vàng cũng góp phần đem lại sự thành công trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong nền kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn hiện nay.
Tóm lại, để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, NHNN phải sử dụng kết hợp, đồng bộ nhiều công cụ khác nhau, trên cơ sở phối hợp đồng thời cả hai cơ chế pháp lý là hợp đồng và các quyết định hành chính để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, kiểm soát lạm phát nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển kinh tế – xã hội.
NGUỒN: Trích Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Luật, K30 (2009). Người hướng dẫn: ThS. Trần Vũ Hải